CHUYỂN TRỌNG TÂM CHÍNH SÁCH DÂN SỐ TỪ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH SANG DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN
Lượt xem: 40
Chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) sang dân số và phát triển là một chủ trương mới và rất lớn của Đảng, là một bước ngoặt lớn cho chính sách dân số của Việt Nam.
Trong hơn 55 năm qua, công tác Dân số - KHHGĐ đã đạt được những thành tựu nổi bật. Việt Nam đã khống chế được tỷ lệ tăng dân số nhanh, đạt và duy trì ổn định mức sinh thay thế. Theo số liệu thống kê, Việt Nam đang ở thời kỳ cơ cấu dân số vàng với khoảng 63 triệu người trong độ tuổi lao động. Tuổi thọ người Việt Nam đã tăng từ 40 tuổi (năm 1960) lên 73,4 (năm 2016). Kết quả giảm sinh đã góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân.

Việt Nam là một trong số ít các quốc gia trên thế giới thực hiện thành công các mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ và được lựa chọn là một trong những nước tham gia xây dựng hoạch định mục tiêu Phát triển bền vững sau năm 2015 với những đặc điểm mới về dân số và xu hướng biến đổi mới đến giữa thế kỷ. Những đặc điểm và xu hướng này sẽ tác động rất lớn đến sự phát triển bền vững của đất nước:
* Mục tiêu giảm sinh của chính sách Dân số-KHHGĐ đã đạt kết quả một cách vững chắc:

Ngay từ đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước, Đảng và Nhà nước đã ban hành chính sách Dân số - KHHGĐ với mục tiêu giảm mức sinh nhằm khống chế tốc độ gia tăng dân số nhanh. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, sự kiên trì và đẩy mạnh KHHGĐ, mức sinh của Việt Nam giảm nhanh, hiện đã đạt mức sinh thay thế (số con trung bình của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm từ 6,8 con trong giai đoạn những năm 60 của thế kỷ trước xuống 2,1 con năm 2005 và giữ vững cho đến nay). Có thể nói mục tiêu giảm sinh mà chính sách DS-KHHGĐ nước ta theo đuổi suốt nửa thế kỷ qua đã đạt được.

*Sự gia tăng dân số Việt Nam đã chậm lại nhưng Việt Nam vẫn là nước đông dân thứ 3 ở Đông Nam Á, thứ 8 ở châu Á và thứ 14 trên thế giới:

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, dân số trung bình của nước ta năm 2016 là 92,70 triệu người, tăng 987,8 nghìn người, tương đương tăng 1,08% so với năm 2015. Theo dự báo, dân số Việt Nam vẫn tiếp tục tăng nhưng chậm lại, đến năm 2025, nước ta sẽ có khoảng 100 triệu dân và dân số sẽ tiếp tục tăng chậm lên khoảng 106-107 triệu vào giữa thế kỷ. Mật độ dân số đạt 274 người/km2, cao gấp hơn 5 lần mật độ dân số thế giới (53 người/km2). Có thể thấy Việt Nam là quốc gia có quy mô dân số lớn, mật độ dân số rất cao. Dân số đông là một thị trường lớn, hấp dẫn đầu tư nhưng cũng là thách thức lớn về an ninh lương thực, năng lượng…

* Việt Nam đang trong giai đoạn “Cơ cấu dân số vàng”:

Từ năm 2006 Việt Nam đã bước vào giai đoạn cơ cấu “vàng” khi tỷ lệ dân số trong độ tuổi 15-64 đạt khoảng từ 66% trở lên, khoảng 2/3 dân số trong độ tuổi có khả năng lao động. Dự báo thời kỳ cơ cấu dân số “vàng” của Việt Nam sẽ kéo dài khoảng 40 năm, tức là sẽ kết thúc khoảng gần giữa thế kỷ này. Cơ cấu dân số “vàng” mang lại nhiều “dư lợi” về lao động nhưng cũng là thách thức về tạo việc làm và việc làm có năng suất, thu nhập cao.

* Dân số Việt Nam đã bước vào quá trình già hóa và Việt Nam sớm trở thành nước có dân số già:

Từ năm 2012,Việt Nam đã bước vào giai đoạn “già hoá dân số”, khi tỷ lệ những người từ 60 tuổi trở lên đạt 10% tổng dân số và dự báo sẽ trở thành nước có “dân số già” vào khoảng năm 2032 tạo nên thách thức về an sinh xã hội cho người cao tuổi trong quá trình phát triển.

* Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ngày càng tăng và đã ở mức nghiêm trọng:

Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 thì tỷ số này là 110,6 trai/100 bé gái. Năm 2015 đã tăng lên 112,8, riêng vùng Đồng bằng Sông Hồng lên tới 120,7 bé trai/100 bé gái. Tình trạng này nếu không được cải thiện thì đương nhiên sẽ dẫn đến sự phát triển không bền vững về mặt xã hội.

* Chất lượng dân số tăng nhưng chưa cao:

“Chỉ số phát triển con người” (HDI) là một thước đo chất lượng dân số. Chỉ số HDI của Việt Nam năm 1992 là 0,486 - xếp thứ 120 trong 174 nước so sánh. Năm 2014, chỉ số HDI Việt Nam tăng lên 0,666 - xếp thứ 116 trong 188 nước so sánh. Rõ ràng, chất lượng dân số tăng lên nhưng chưa cao.

* Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam còn ít chú ý đến xu hướng biến đổi dân số:

Mặc dù, dân số Việt Nam trong nửa thế kỷ qua biến đổi nhanh nhưng các kế hoạch phát triển còn ít tính đến xu hướng biến đổi này như: Từ năm 1998 đến năm 2014 số học sinh Tiểu học giảm gần 3 triệu, tức là giảm 29% nhưng điều này chưa được tính đến trong kế hoạch phát triển giáo dục một cách đầy đủ...

Những vấn đề dân số nổi bật, mới phát sinh như: “cơ cấu dân số vàng”, “dân số già”, “mất cân bằng giới tính khi sinh”, “di cư và tích tụ dân số”, “chất lượng dân số chưa cao”... đang đòi hỏi được giải quyết nhằm nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, góp phần phát triển bền vững đất nước. Nhận thức được những đặc điểm và những xu hướng mới, khác biệt của dân số nêu trên, ngày 4/1/2016, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hành kết luận số 119-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách Dân số-KHHGĐ. Trong đó, “Ban Bí thư đề nghị Bộ Chính trị trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII xem xét, ban hành Nghị quyết về dân số” và “cần chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển”.

Việc chuyển trọng tâm này nhằm giải quyết toàn diện các vấn đề dân số cả về quy mô, cơ cấu, phân bổ và nâng cao chất lượng dân số: Duy trì mức sinh thay thế; Giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh; Tận dụng cơ cấu dân số vàng; Thích ứng với quá trình già hóa dân số; Điều chỉnh phân bố dân số hợp lý; Nâng cao chất lượng dân số.

Như vậy, nếu trước đây, chính sách Dân số-KHHGĐ, chỉ tập trung vào một nội dung là KHHGĐ với mục tiêu giảm sinh thì nay, chính sách dân số mới với nhiều nội dung hơn, phạm vi rộng lớn hơn, chuyển trọng tâm, chứ không phải là “từ bỏ KHHGĐ” mà KHHGĐ được thực hiện theo phương thức mới.

Rõ ràng, xây dựng và thực hiện chính sách dân số mới mà trọng tâm là “Dân số và phát triển” là một chủ trương mới và rất lớn của Đảng. Thực hiện điều này thực sự là một bước ngoặt lớn cho chính sách dân số của Việt Nam kể từ năm 1961. Đồng thời đòi hỏi nỗ lực lớn trong việc đổi mới tư duy về chính sách dân số và triển khai thực hiện.
Thông tin mới nhất
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tổng lượt truy cập: 1
Đăng nhập